Vận tải cơ C-130J Mỹ đóng tại Djibouti năm 2016. Ảnh: USAF.

Vận tải cơ C-130J Mỹ đóng tại Djibouti năm 2016. Ảnh: USAF.

Tháng 7/2016, ba vận tải cơ C-130J Hercules của không quân Mỹ cấp tốc rời căn cứ Lemonnier ở Djibouti để bắt đầu chiến dịch sơ tán các nhân viên sứ quán nước này tại Nam Sudan. Những tài liệu mới được giải mật cho thấy đội bay C-130 đã phải tránh hàng loạt trận địa phòng không mà không có biện pháp tự vệ, cũng như gặp nhiều sự cố kỹ thuật trong quá trình sơ tán, theo Drive.

Vào thời điểm đó, cựu tổng thống Mỹ Barack Obama đã trực tiếp ra lệnh cho Lầu Năm Góc triển khai lực lượng hỗ trợ đại sứ quán ở Nam Sudan, trong bối cảnh bạo lực gia tăng ở quốc gia châu Phi này khiến hàng chục người thiệt mạng, bao gồm một lính gìn giữ hòa bình Trung Quốc.

Phi đoàn không vận viễn chinh số 75 không quân Mỹ quyết định triển khai ba vận tải cơ C-130J với mật hiệu Lion (Sư tử) 592, 593 và 594. Các máy bay và tổ lái đều thuộc biên chế Phi đoàn không vận số 39 đóng tại căn cứ không quân Dyess ở bang Texas, Mỹ, đơn vị cung cấp nhân lực và khí tài cho Phi đoàn số 75.

Chúng chở theo nhóm đặc nhiệm hỗn hợp 30 người từ lực lượng Mũ nồi Xanh của lục quân Mỹ, SEAL của hải quân và ít nhất một sĩ quan điều phối hoạt động tác chiến không quân (JTAC). Trong số này, JTAC là người có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đưa 30 nhân viên ngoại giao Mỹ tới nơi an toàn.

“Có rất ít thông tin về tình hình và nhiệm vụ ở Nam Sudan vào thời điểm đó. Chúng tôi chỉ có 12 tiếng để lên kế hoạch trước khi xuất phát vào sáng hôm sau”, tướng Robert Stumpf, chỉ huy Phi đoàn số 75 vào thời điểm đó, nhớ lại. Trên thực tế, Nam Sudan vẫn chìm trong cuộc nội chiến nổ ra từ năm 2013, khiến hàng nghìn người thiệt mạng và hàng triệu người phải rời bỏ nhà cửa.

Tài liệu của không quân Mỹ cho thấy hành trình dài 8 tiếng từ căn cứ Lemmonier tới sân bay quốc tế thủ đô Juba của Nam Sudan rất khó khăn. Đây là lần đầu tiên Mỹ thực hiện hoạt động giải cứu nhân viên ngoại giao, một phần của chiến dịch ứng phó khủng hoảng mang tên “New Normal”, được vạch ra sau cuộc tấn công lãnh sự quán Mỹ ở thành phố Benghazi, Libya năm 2012.

Trong lúc tướng Stumpf và các chỉ huy vạch kế hoạch, lực lượng kỹ thuật phải gấp rút chuẩn bị những chiếc C-130J. Họ xác định và sửa chữa ít nhất 10 vấn đề có thể ảnh hưởng tới nhiệm vụ, trong đó gồm ba lỗi nghiêm trọng với các động cơ máy bay.

Các binh sĩ đặc nhiệm đánh thức tổ lái chỉ 7 tiếng trước khi xuất phát. “Họ cùng thống nhất kế hoạch tác chiến trong phòng ngủ”, tài liệu của không quân Mỹ tiết lộ.

Xe bán tải và một trong ba chiếc C-130J trong cuộc giải cứu. Ảnh: Drive.

Xe bán tải và một trong ba chiếc C-130J tham gia cuộc giải cứu. Ảnh: Drive.

Nhiều vấn đề kỹ thuật xuất hiện trong chuyến bay. Tổ lái phải chấp nhận xuất phát với một số hệ thống điện hư hỏng, buộc họ vòng tránh một số khu vực thời tiết xấu thay vì bay thẳng qua. “Kỹ thuật viên trên Lion 592 phải tự mắc lại dây điện của tổ hợp thông tin vệ tinh trong khi bay, để cả ba vận tải cơ có thể dùng chung kênh liên lạc bảo mật. Đây là lần đầu tiên một kíp bay C-130 thực hiện điều này trong lịch sử không quân Mỹ”, một sĩ quan giấu tên tiết lộ.

Ngoài các sự cố kỹ thuật, biên đội C-130J còn phải đối mặt với hiểm họa từ mặt đất. Chính phủ Mỹ coi thủ đô Juba của Nam Sudan là vùng chiến sự nguy hiểm, cho rằng sân bay quốc tế có thể rơi vào tay phiến quân. Ngày 11/7/2016, lực lượng chính phủ Nam Sudan và phiến quân nổ ra trận đánh dữ dội với sự tham gia của xe tăng cùng hàng loạt vũ khí hạng nặng.

Lầu Năm Góc cũng lo ngại tổng thống Nam Sudan Salva Kiir không kiểm soát được chính quân đội của mình, trong đó bao gồm nhiều đơn vị phòng không. Trong giai đoạn 2015-2016, quân đội Nam Sudan đã biên chế nhiều tổ hợp phòng không tầm trung S-125 của Nga và tên lửa vác vai QW-2 do Trung Quốc sản xuất.

Đây đều là những vũ khí cực kỳ nguy hiểm với biên đội vận tải cơ Mỹ có tốc độ chậm và phải bay gần mặt đất để bảo đảm bí mật. Các vận tải cơ Mỹ không có hệ thống phóng mồi bẫy để đánh lừa tên lửa dẫn đường bằng radar, cũng như thiết bị đối kháng hồng ngoại định hướng (DIRCM) để “làm mù” tên lửa tầm nhiệt của đối phương. Đây đều là những trang bị thường gặp với các máy bay C-130J phải hoạt động trong môi trường có độ rủi ro cao.

Vũ khí bộ binh, súng máy hạng nặng và súng chống tăng cũng là mối đe dọa không thể coi thường, đặc biệt là khi các máy bay phải hạ cánh xuống Juba. Không quân Mỹ hiểu rõ hiểm họa này sau chiến dịch sơ tán tương tự ở Nam Sudan năm 2013.

Khi đó, ba trực thăng lai CV-22 Osprey phải hủy kế hoạch giải cứu công dân Mỹ tại thành phố cảng Bor sau khi gặp hỏa lực bộ binh. Cả ba phi cơ đều bị hư hỏng nghiêm trọng, một số lính đặc nhiệm SEAL cũng suýt thiệt mạng do trúng đạn và mảnh văng.

Biên đội C-130J phải bám theo đường bay phức tạp để tránh 13 trận địa phòng không tại Nam Sudan, đồng thời duy trì độ cao cực nhỏ và không liên lạc vô tuyến để hạn chế khả năng đánh động đối phương.

Chỉ ba phút sau khi đáp xuống sân bay quốc tế Juba, lực lượng đặc nhiệm Mỹ đã chiếm được đài chỉ huy không lưu. Các phương tiện cơ giới được chuyển xuống trong vòng 20 giây và bắt đầu di chuyển tới đại sứ quán Mỹ. Có thời điểm liên lạc giữa JTAC và đoàn xe bị mất, buộc tổ lái Lion 594 phải dùng hệ thống liên lạc của mình kết nối với máy bay trinh sát để theo dõi hành trình của đoàn xe giải cứu.

Vị trí Nam Sudan. Đồ họa: BBC.

Vị trí thủ đô Juba của Nam Sudan. Đồ họa: BBC.

Các binh sĩ của Phi đoàn số 75 cũng duy trì liên lạc với 6 tiêm kích F/A-18 Hornet, nhiều khả năng thuộc biên chế lực lượng ứng phó khủng hoảng của thủy quân lục chiến Mỹ ở châu Phi. Chúng được trang bị đầy đủ vũ khí và liên tục quần thảo trên không, sẵn sàng thực hiện đòn không kích để yểm trợ lực lượng đặc nhiệm dưới mặt đất.

“Khi các nhân viên ngoại giao tới sân bay, bạn có thể thấy họ rất lo lắng và mệt mỏi. Họ trở nên bình tĩnh hơn nhiều khi ngồi an toàn trên máy bay”, trung sĩ James Hurst, một thành viên tổ bay tham gia chiến dịch giải cứu, nhớ lại. Hai người trong số đó đang ở trong tình trạng nguy hiểm tới tính mạng, họ được cứu sống nhờ chuyến không vận tới căn cứ Mỹ ở nước láng giềng Uganda.

Các lực lượng không xác định đã nổ súng vào biên đội Lion trong khi cất cánh, buộc các phi công phải cơ động vòng tránh. Không quân Mỹ từ chối tiết lộ tình trạng của những chiếc C-130J, nhưng khẳng định không có người bị thương trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

Dù kết thúc thành công, nhiệm vụ giải cứu tại Nam Sudan cho thấy sự phức tạp và nguy hiểm của những chiến dịch bất ngờ, ngay cả khi Mỹ không xảy ra xung đột với quốc gia sở tại. Điều này cũng đặt ra lo ngại khi Washington phải thực hiện hoạt động tương tự ở những khu vực có mạng lưới cảnh giới và phòng không dày đặc hơn nhiều trong tương lai.